Hiện kết quả từ 1 tới 5 của 5

Chủ đề: Bồ-tát Địa Tạng

  
  1. #1
    Tham gia
    Nov 2011
    Bài gửi
    388
    Thanks
    4
    Thanked
    19 Times in 19 Posts
    Năng lực viết bài
    0

    Bồ-tát Địa Tạng

    Bồ-tát Địa Tạng



    Bồ-tát Địa Tạng là một trong những vị đại Bồ-tát với hạnh nguyện to lớn, nguyện cứu hết chúng sanh đau khổ trong địa ngục thì Ngài mới thành Phật (Địa ngục vị không thệ bất thành Phật

    /Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề). Nhưng chúng sanh vốn dĩ tạo nghiệp vô lượng vô biên nên công nghiệp cứu độ của Ngài cũng miệt mài đến vô biên vô lượng.


    Thị hiện làm giáo chủ cõi U minh, Bồ-tát Địa Tạng luôn khuyến hóa những chúng sanh bị đọa lạc biết tỉnh thức để chuyển hóa những mê lầm, thành tâm ăn năn hối cải, bỏ ác làm lành để thoát khỏi cảnh khổ ác đạo.

    Tuy vậy, đó cũng chỉ là một trong vô vàn hạnh nguyện độ sanh, lợi lạc hữu tình của những bậc đại Bồ-tát nhằm trang nghiêm quả vị Vô thượng Bồ đề.


    [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ]

    Theo kinh Địa Tạng, ngoài hạnh nguyện vĩ đại cứu độ hết thảy chúng sanh trong địa ngục, danh hiệu của Bồ-tát Địa Tạng còn mang một ý nghĩa sâu xa, đó chính là biểu tượng cho tâm địa hay bản tâm của chúng ta.

    Như mặt đất (địa) có thể thâu nhiếp và dung chứa (tạng) tất cả mọi vật. Tâm (àlaya) của chúng ta cũng vậy, dung chứa đầy đủ các hạt giống thiện ác.

    Bồ-tát Địa Tạng nguyện cứu độ hết chúng sanh trong địa ngục mới thành Phật, đối với người tu cũng nguyện chuyển hóa tất cả những hạt giống xấu ác trong tâm; ngay đó cũng thành Phật. Đây chính là hai mặt sự và lý trong hạnh nguyện của Bồ-tát.


    Như vậy, Bồ-tát Địa Tạng không chỉ cứu độ chúng sanh trong địa ngục mà gồm thâu nhiều công hạnh, nhất là hạnh cứu độ chúng sanh tâm (chủng tử xấu ác) làm hiển lộ bản tâm sáng suốt và thanh tịnh.

    Kính thờ Bồ-tát Địa Tạng chính là để học theo hạnh nguyện này của Ngài. Những ai nói rằng “Thờ Ngài Địa Tạng thì có rất nhiều người ở cõi âm đi theo nên những người ấy có thể phá hại gia đình” là thiếu cơ sở, vì thế bạn cứ yên tâm thờ Bồ-tát Địa Tạng.






    Xem thêm các chủ đề liên quan:


  2. #2
    Tham gia
    Nov 2011
    Bài gửi
    388
    Thanks
    4
    Thanked
    19 Times in 19 Posts
    Năng lực viết bài
    0
    Thờ Phật trong nhà phải kiêng kị những gì?Kích thước chữ :


    Tín ngưỡng thông tục của dân gian có rất nhiều điều kiêng kị, nhưng đó không phải là tín ngưỡng Phật giáo chân chính mà chỉ là những điều kiêng kị ngộ nhận là của Phật giáo


    [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ]
    Đức Phật Mẫu Chuẩn Đề

    Như những cây hương thừa trong bát hương nếu hàng ngày không thu gọn thì trở nên dơ bẩn và dễ gây cháy rất nguy hiểm. Thực ra là mỗi một bát hương đặt trước các tượng Phật trong nhà chùa của chúng ta hàng ngày vào lúc sáng sớm đều cần phải thu gọn, giữ cho bát hương luôn luôn sạch sẽ như mới thắp hương lần đầu.

    Các nữ tín đồ thờ Phật tại nhà đến kỳ kinh nguyệt thì không dám tới chùa lễ Phật, thậm chí không dám đến trước bàn thờ Phật để thắp hương tụng kinh, tọa thiền, niệm Phật. Kỳ thực đó là điều kiêng kị của hàng quỷ thần cấp thấp.

    Vì quỷ thần sợ máu bẩn nên hễ thấy máu bẩn thì dễ nổi giận. Quỷ thần nghiện ăn máu, thấy máu là dấy lòng tham, nhưng máu kinh nguyệt không phải là máu tươi nên quỷ thần có phản ứng như bị người ta đùa bỡn làm nhục.

    Do vậy, phụ nữ khi hành kinh vào các đền, miếu, điện thờ quỷ thần thì có thể bị hậu quả không tốt.

    Còn như các Sadini, Tỳ kheo ni, cùng các Ưu bà di ở gần đều sinh hoạt tại chùa, cùng các phụ nữ tu hành hàng ngày làm bạn với kinh sách, tượng Phật và các pháp vật khác của nhà chùa, từ xưa đến nay chưa từng thấy ai bị tai họa bởi vấn đề xung khắc do kinh nguyệt gây ra cả.

    Những người thờ Phật tại gia khi lập bàn thờ Phật trước hết phải nhờ người làm lễ khai quang các tượng Phật, Bồ Tát, lại phải chọn ngày tốt, hương tốt.

    Đó cũng là do tín ngưỡng dân gian hoặc phong tục dân gian. Theo quan điểm "vào làng nào theo tục lệ làng ấy" mà nói thì tục lệ đó cũng không có gì sai trái lắm, làm lễ khai quang là để tỏ ý thận trọng, chọn ngày chọn hướng là để tỏ ý cầu mong tốt lành. Nhưng theo quan điểm Phật giáo thì chư Phật, Bồ Tát có ở khắp mọi nơi, không một chỗ nào không ứng hiện.

    Tất cả mọi hướng đều có chư Phật thập phương, Tam bảo thập phương, Long thiên hộ pháp. Như vậy, đương nhiên là không hề có những vấn đề do tín ngưỡng dân gian tưởng tượng ra. Chỉ cần chọn một chỗ nào mình cho là tôn quí nhất, rồi với tình cảm thành kính nhất và chọn một thời điểm thích đáng nhất để đặt tượng thờ Phật là được.

    Có người cho rằng cho những bài chú, kinh nào đó thì người tu tại gia không được niệm, hoặc có những bài chú, kinh nào thì không được niệm vào một giờ nào đó. Kỳ thực, với tấm lòng cung kính, tất cả mọi bài kinh, chú đều có thể tụng niệm ở bất cứ nơi nào thanh tịnh.

    Tốt nhất là trước khi tụng niệm nên rửa tay, súc miệng rồi đứng trước bàn thờ thắp hương lễ Phật mà tụng niệm nhưng không nên nói người tu tại gia không được tụng kinh nào đó hoặc không được niệm chú nào đó, trừ những pháp môn quy định đặc biệt của Mật Tông thì không kể.

    Trong một nhà cũng có thể có người tin Phật, có người tin Thần, phải chăng có thể thờ chung cả Thần và cả Phật trong cùng một bàn thờ ?

    Điều đó nên coi là không có vấn đề gì : thờ Phật ở chính giữa, cúng Bồ Tát ở hai bên, cúng các Thần ngoài cùng, coi là kẻ bảo vệ bên ngoài cho Tam bảo, cũng nên để cho các Thần gần gũi với Tam bảo để tu học Phật pháp, gây thần nhân duyên với đạo Phật. Nếu đạt được sự thỏa thuận của cả nhà, sau khi đã đổi ý mà tin theo Phật thì sẽ làm lễ cúng Thần, khấn cáo với Thần rồi đem tượng (và đồ thờ) Thần cất đi, để tránh cúng thờ ngẫu tượng quá nhiều sinh ra tạp loạn.

    Có nhiều người không hiểu đối với tro hương cùng các kinh sách, tượng và các pháp vật bị hư hỏng thì sẽ xử lý như thế nào ? Thậm chí có người mang đến giao cho nhà chùa. Kỳ thực thì chỉ cần chọn chỗ đất trống và đồ đựng sạch sẽ, bỏ các thứ đó vào rồi châm lửa đốt đi, đốt xong đào lỗ chôn xuống đất là được.

    Những thứ làm bằng kim loại không đốt được thì tìm chỗ cất kín, một thời gian sau sẽ xử lý thải bỏ như đối với đồ đạc cũ kỷ rách nát khác.

    Các vật cúng bày trên bàn thờ Phật như hoa, quả, nước trà v.v… thuộc các loại phẩm vật tiêu hao thì phải thay đổi hằng ngày.

    Những thứ gì còn có thể dùng được, ăn được thì nên đem dùng vào việc khác hoặc đem cho người nhà ăn dùng, không nên vứt đi, những thứ bị ôi thiu, hư nát thì phải đổ bỏ đi như đổ rác. Còn như phẩm vật bày cúng nên bày cúng đơn chiếc hay bày một đôi thì không có hạn chế gì cả.

    Xét về mỹ quan đối xứng mà nói thì nên dùng một cặp đôi. Nhưng nếu vì tiền nong vật phẩm có hạn, hoặc do vị trí chỗ bày biện không tiện, chỉ bày cúng đơn chiếc thì cũng không có gì là không được. Còn về đồ cúng là những món gì, về nguyên tắc là tùy theo chỗ tiền nong chi tiêu mà mình có thể lo liệu được, không bày biện rườm rà mà cũng không cần phải phô trương.

    Thời gian tu hành tại nhà thích hợp nhất là vào lúc sáng sớm và buổi tối, lúc đó nhờ thân tâm thanh tịnh, thoải mái.

    Như vậy mới có thể chuyên chú, thành tâm mà tu tập. Nếu vì tính chất công việc làm ăn thì đương nhiên có thể chọn những thời gian khác nhau. Tốt nhất là không lập bàn thờ trong phòng ngủ, không nên ngồi tọa thiền, lễ Phật, tụng kinh ở trên giường. Nhưng nếu nhà ở chỉ có một phòng thì tốt nhất là lúc bình thường lấy vải khăn che phủ tượng Phật khi nào lễ Phật thì xếp dọn giường chiếu chỉnh tề, sạch sẽ rồi mới mở khăn tượng Phật ra.

    Nếu giường làm lễ cúng được, coi đó cũng là một nơi để tu hành. Nói tóm lại, lấy cái tâm thanh tịnh, cung kính để biểu thị mức độ trang trọng, nghiêm túc làm nguyên tắc.

    Sau khi đã quy y Tam Bảo thì không được quy y một tôn giáo nào khác, không được thờ phụng một đền miếu, đạo tràng nào của tín ngưỡng dân gian.

    Tuy vậy vẫn phải giữ thái độ tôn kính đối với các tín ngưỡng đó. Khi đi vào các nhà thờ, đền miếu, đền thần phải cúi người chắp tay chào hỏi. Không được coi việc thờ phụng đó là đối tượng tín ngưỡng của mình, mà coi đó là cử chỉ để giữ quan hệ hữu nghị. Trước khi chưa có nhận thức xác thực đối với Phật pháp thì không được đọc sách báo ngoại nếu không sẽ dẫn đến sự chi dắt sai lầm về phương hướng.
    TTPH

  3. #3
    Tham gia
    Nov 2011
    Bài gửi
    388
    Thanks
    4
    Thanked
    19 Times in 19 Posts
    Năng lực viết bài
    0
    Hiểu rõ về hai ngài Hộ pháp đạo Phật

    Kích thước chữ : [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ] [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ]

    Đa số các chùa ở Việt Nam thường thờ hai tượng có khuôn mặt thiện và ác. Đây là hai vị Hộ pháp được tạc tượng theo kiểu võ sĩ cổ, mình mặc áo giáp, đầu đội mũ, một vị tay cầm viên ngọc, vị kia tay cầm binh khí, trong tư thế đứng hoặc ngồi.


    [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ]
    Tượng Hộ pháp Trừng Ác thờ tại chùa Bái Đính (Ninh Bình)


    Hiện thân của Hộ Pháp

    Thượng tọa Thích Thiện Đạo, Ủy viên Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Đồng Nai, trụ trì chùa Phi Lai (Biên Hòa) cho hay hình tượng Hộ Pháp có tên gọi đủ là Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát. Đây là những Thiện Thần phát nguyện (tự nguyện - PV) hộ trì (ủng hộ và giúp đỡ - PV) Phật pháp.

    Những nơi như đạo tràng, chùa chiền, tháp Phật, kinh điển, người thọ trì Kinh… các Ngài thường hiện với các hình tướng: Thiện Thần, Chư Thiên, Thần Kim Cang, Tứ Thiên Vương, Thủ Hộ Già Lam… để ủng hộ, không cho ma quỷ, những ngoại đạo không tốt và người xấu, có ác tâm xâm hại.

    Theo tài liệu của Ngài Thái Hư Đại sư, Hộ Pháp Vi Đà là vị thần Kim Cang, nơi tay cầm gậy Kim Cang, dùng oai lực để giúp đỡ Phật pháp.

    Còn căn cứ vào bộ “Nam Sơn Cảm Thông Lục” (Đạo Tuyên), ở cõi trời Tứ Thiên Vương có vị Thiên đại tướng quân, tên là Vi Côn, thường qua lại ba châu: Đông Thắng Thần châu, Nam Thiệm Bộ châu và Tây Ngưu Hóa châu để ủng hộ Phật pháp.

    Vốn không có tượng của vị thần ấy nhưng người đời muốn tưởng niệm, nên đã tạo ra tượng của ngài Vi Đà Thiên để thay thế. Riêng theo hệ phái Mật giáo thì căn cứ bộ Kinh “Kim Quang Minh” nên thờ tượng của một vị Đại tướng tên là Tán Chỉ làm hộ pháp.

    Hình tướng các ngài thường được tạo dựng to lớn, oai vệ như Thiên Tướng, mà dân gian vẫn nói "to như ông Hộ Pháp", mình mặc áo giáp trụ, đầu đội mũ Thiên Tướng, tay cầm Chày Kim Cang, Bảo kiếm, Bảo xử…

    [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ]
    Việc thờ tượng Hộ Pháp nhằm nhắc nhở mọi người phải lánh ác làm thiện (ảnh internet)


    Ở các chùa miền Bắc các tượng Hộ Pháp thường được tạo đứng hoặc ngồi trên lưng sấu, một loại sư tử huyền thoại. Trong khi đó các chùa ở miền Nam, quý Ngài thường là tượng đứng cưỡi rồng, cưỡi mây.

    “Riêng với Kim Cương thừa (Mật tộng - PV), Hộ Pháp là hóa thân của đức Bồ-tát Quán Thế Âm trong hình tướng của vị đại lực sỹ. Bồ-tát Quán Thế Âm là biểu tượng của sự ban vui, cứu khổ, cứu nạn. Vì thế, chúng ta thấy người dân hay đến chùa cầu xin sự che chở, bảo vệ của quý ngài Hộ Pháp là vậy" - Thượng tọa Thiện Đạo giải thích.

    Thờ để nhắc nhở đạo đức con người


    Trong các chùa tu theo phái Phật giáo Nam Tông và Khất sỹ Việt Nam thường không thờ tượng Hộ Pháp.

    Tuy nhiên, các chùa tu theo Phật giáo Phát triển (Bắc tông - PV), hình tượng hai vị thần: Thiện thần (khuyến thiện), ủng hộ chốn già lam, người thọ trì kinh; và Ác thần (trừng ác), bắt phạt, trừng trị những người có ác tâm phá hoại Phật pháp, phá hoại người tu hành thường được đặt thờ.

    Nói về việc thờ tượng thiện và ác của Hộ Pháp, Thượng tọa Thiện Đạo chia sẻ: "Các chùa hiện nay thường thờ hai tượng Hộ Pháp mặc dù kinh điển Phật giáo chỉ nói đến một vị Hộ Pháp Vi Đà. Việc thờ tượng ông Khuyến Thiện và ông Trừng Ác nhằm thể hiện sự tồn tại biện chứng của hai mặt đối nghịch Thiện và Ác trong cuộc sống đời thường.

    [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ]
    Những người thường xuyên giúp đỡ, ủng hộ Phật pháp đều được xem là Hộ pháp

    Đây là hình thức giáo dục sâu sắc, nhằm nhắc nhở con người nên ăn hiền ở lành, không nên có ác tâm, làm người khác đau khổ, làm lành thì được các vị Thiện Thần ủng hộ, làm ác thì bị các vị Ác Thần trừng phạt khiển trách".

    Cũng theo thầy Thiện Đạo, Đức Phật dạy: Không phải chỉ có chư thiên mới là hộ pháp mà tất cả những người từ vua quan cho đến thứ dân ở cõi Ta bà (cõi người - PV), ai có tâm ủng hộ Phật pháp (tức ủng hộ trừ bỏ cái ác, khuyến khích phát triển cái thiện - PV) trường tồn ở thế gian, làm lợi lạc chúng sanh, đều được gọi là hộ pháp.

    "Cho nên, việc thờ tượng Hộ Pháp không ngoài ý nghĩa nhắc nhở mọi người sống: “Không làm các điều ác/ Nguyện làm các hạnh lành/ Giữ tâm ý trong sạch/ Ấy lời chư Phật dạy". Quan điểm này thể hiện tinh thần bình đẳng nhập thế (vào đời - PV) của đạo Phật" - Thượng tọa Thích Thiện Đạo nhấn mạnh.

    Quần Anh - Hoài Lương

  4. #4
    Tham gia
    Nov 2011
    Bài gửi
    388
    Thanks
    4
    Thanked
    19 Times in 19 Posts
    Năng lực viết bài
    0
    Sự hiểu biết về thân trung ấm có giá trị như thế nào?

    Kích thước chữ : [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ] [Bạn phải đăng nhập mới thấy được link. ]

    Toàn thân người đều cảm giác nặng nề, mỏi mệt lấn áp vào toàn tạng phủ cho đến các lóng đốt lẫn đến từng tế bào, nỗi đau đớn áp bức gây chướng ngại không sao tả được, thể hiện qua chân tay co rút, gân mạch run rẩy, đó là trạng thái địa đại lấn áp thủy đại.


    A. Thuyết minh về thân trung ấm:

    Nếu đã chết, trạng thái tâm đi vào thân trung ấm, dù có nói năng thế nào đi chăng nữa, nhĩ căn cũng không nghe được, vì không đồng cảnh giới; thế nên phải nói lúc còn thân sinh hữu (chưa chết) để những sinh hữu khác cùng nghe, có sự hiểu biết để hành xử cho đúng về lý lẫn sự để khi bỏ thân sinh hữu nầy, trung ấm thân tái sinh vào các cảnh giới thù thắng hơn mà thân sinh hữu ước nguyện như sinh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.

    B. Lược đồ ba thân:

    Tiền ấm khi thân tứ đại còn sinh hoạt. Thí dụ: Khởi điểm ở A. Từ A và B là một đời sống. Trung ấm khi thân nầy lâm vào trạng thái chết.

    Thí dụ:

    Khởi điểm ở B v à C

    Hậu ấm trạng thái tâm thức chưa nhập vào thai đời sau.

    C. Trạng thái khi bốn đại phân ly:

    1) Trạng thái địa đại lấn áp thủy đại:

    Toàn thân người đều cảm giác nặng nề, mỏi mệt lấn áp vào toàn tạng phủ cho đến các lóng đốt lẫn đến từng tế bào, nỗi đau đớn áp bức gây chướng ngại không sao tả được, thể hiện qua chân tay co rút, gân mạch run rẩy, đó là trạng thái địa đại lấn áp thủy đại.

    2) Trạng thái thủy đại lấn áp hỏa đại:

    Hơi lạnh truyền khắp trong thân thể rồi thấm vào cốt tủy, nội tạng rung động, gan ruột đều giá lạnh, dù cho lửa lò cũng không trừ được. Dù nằm trên băng tuyết nỗi lạnh không bằng một phần trong muôn phần của trạng thái thủy đại lấn áp hỏa đại, bệnh nhân nhan sắc nhợt nhạt, hơi thở khò khè, thân mình run rẩy.

    3) Trạng thái hỏa đại lấn áp phong đại:

    Lúc đó sinh cơ lui mất hơn phân nửa, sức chống chọi giảm rất nhanh, khổ lại tăng lên càng nhiều, trong ngũ tạng ngoài tứ chi, khác nào nung nướng từng lóng đốt như bị cắt chặt đau đớn quá nên cứng đơ như thẻ gỗ.

    Khi đó nét mặt ửng đỏ, tinh thần tối tăm, hơi thở ra thì nhiều, hít vào thì ít. Đó là trạng thái hỏa đại lấn áp phong đại.

    4) Trạng thái phong đại phân ly:

    Lúc đó thân thể người bệnh bỗng nhiên cảm thọ một thứ gió mãnh liệt thổi bạt thân thể tan nát như vi trần, hết sức đau đớn rã rời. Khi ấy bốn đại phân ly, sáu căn bại hoại, chỉ còn nghiệp thức tùy theo nghiệp lực đã tạo tác lúc còn sống mà thọ sanh.

    Nếu được sanh vào cõi Tịnh Độ ở Phương Tây, thì nhờ oai thần của Phật A Di Đà và Thánh Chúng đến tiếp dẫn. Điều cần tránh là gia nhân và quyến thuộc phải dè dặt chớ khóc lóc rộn ràng, như thế làm cho thần thức người chết bị tình thương lôi cuốn, tham đắm vào cảnh thế gian chướng ngại cho sự vãng sanh. Vì thế nên để yên thi thể sau khi tắt thở tối thiểu là tám tiếng đồng hồ rồi sẽ làm những việc cần thiết như chùi rửa, thay đổi áo quần hoặc làm các thủ tục nhập liệm. Nếu động than thể người mất quá sớm, thức chưa ra khỏi thân, bị xúc động phải cảm thọ sự đau đớn mà sinh ra sân hận phải đọa vào ác đạo.

    Mặt khác, nên xét kỹ lúc sinh thời (hữu) của người chết, tuy tin Phật, nhưng giải đãi trong việc tu tập, tín nguyện chưa thâm thiết, nghiệp chướng nặng nề, khi lâm chung bị mê mờ, tức là hiểu được người đó chưa được vãng sanh. Nên mời các vị thiện tri thức tu Tịnh Độ Tôn đối trước thi thể của người chết vì vong linh mà khai thị:

    ’’Nguyện ... nếu đạo hữu đến trên mặt nước hay trước bức gương mà soi thì sẽ không thấy được diện tượng của đạo hữu hiện vào nữa, vì thân trung ấm đã rời sắc thân tứ đại do huyết nhục tạo nên trong nhân gian. Đạo hữu nên biết, khi đã vào giai đoạn Trung Ấm Thân, chỉ có một điều cần thiết là: ’ Không nên nhớ nghĩ việc gì nữa chỉ nên chuyên tâm niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát Quán Thế Âm đến cứu độ. Khi đó Đức Phật và Bồ Tát sẽ cảm ứng mà đến. Mong đạo hữu phải khéo tự phát ý niệm Phật.’’

    Thân Trung Ấm sẽ cảm thọ các hào quang như sau:

    Ánh sáng của đạo Trời thì hơi Trắng

    Ánh sáng của đạo Người thì hơi Vàng

    Ánh sáng của đạo A Tu La thì hơi Lục

    Ánh sáng của đạo Ngạ Quỷ thì hơi Đỏ

    Ánh sáng của đạo Súc Sanh thì hơi Xanh

    Ánh sáng của đạo Địa Ngục thì như khói Đen

    Ánh sáng của lục đạo dịu dàng dễ chịu, nhưng không nên tham đắm, cần phải tránh xa. Nên chăm lòng thành kính niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát Quán Thế Âm. Phải bỏ cái dễ đi đến cái khó, không nên khiếp nhược, phải đi đến chỗ hào quang mãnh liệt của chư Phật, hào quang (ân huệ, giải thoát, vượt phàm thành thánh), nếu đem toàn thân vào trong đó, tức bước lên cõi Phật thường an vui, xa lìa nỗi khổ não đắm chìm trong lục đạo.

    1. Những người chuyên tu Thiền Định, hoặc niệm Phật đến trình độ Nhất Tâm Bất Loạn, thần thức có thể xuất ly tam giới hay sinh về cõi Trời, hễ những vị đó chết là thần thức lập tức siêu sinh.

    2. Những người tu mười thiện nghiệp giữ năm giới, trung hiếu nhân nghĩa, cứu người giúp đời, thì khi chết trực tiếp sanh về cõi trời cõi người ngay, mà không ở trong trạng thái chần chờ.

    3. Những người rất gian ác nham hiểm vừa tắt hơi thở là liền bị sanh vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh tức thì.

    4. Ngoài ba hạng người vừa kể còn tất cả đều trải qua trạng thái chần chờ do dự, giai đoạn chần chờ thần thức rời khỏi thân cũ đến khi thọ thân mới khoảng thời gian nầy gọi là Thân Trung Ấm.

    5. Thân Trung Ấm cảm thọ các cảnh giới sau:

    • Cảm thấy một cái hồ có nhiều loại chim say đắm an vui mà xao lãng chỗ tấn tu, không nên thọ sanh vào. Đó là: Đông thắng thần châu

    • Cảm thấy hiện ra cung điện huy hoàng, nên sanh về châu nầy vì có Phật pháp lưu hành. Đó là: Nam thiện bội châu

    • Cảm thấy một cái hồ, hai bên bờ hồ có trâu gặm cỏ, vì sự giàu có ở châu nầy làm tăng trưởng tham tâm, không nên thọ sanh vào. Đó là: Tây ngưu hóa châu

    • Cảm thấy một cái hồ trên bờ hồ có súc vật và cây cối, không nên thọ sanh vào, vì không có Phật pháp lưu hành. Đó là: Bắc cu lô châu

    Nếu hành giả tu nhân giải thoát tức vô lậu thiện nghiệp, sau khi chết thần thức sẽ sinh về các cõi Tịnh Độ, không còn sự chi phối ràng buộc của tam giới. Cận tử nghiệp có tính cách quyết định ưu tiên cho việc thọ báo, đây là một điều tối ư quan trọng, chúng ta không nên xem thường điều cứu độ Thân Trung Ấm.

    D. Hành giả muốn siêu tiến lúc lâm chung, chủ yếu lúc còn sống việc tu niệm cần đạt được nhất tâm:

    Nhờ vào công phu tu tập của mình khi còn sống để cầu giải thoát thì dễ, ngược lại dựa vào sự siêu tiến cầu nguyện của thân thuộc sau khi chết để mong siêu phàm nhập thánh thời khó. Công phu tu niệm của đương sự thuộc đẳng lưu nhân quả, việc cầu nguyện của thân nhân chỉ là tăng thượng nhân quả mà thôi.

    Phần đông thần thức của Thân Sinh Ấm, rời trải qua Trung Ấm Thân để chờ việc thọ sanh, nhanh hay chậm là tùy theo nghiệp lực và nghiệp thức mỗi Thân Trung Ấm không đồng nhau.

    Tóm lại, nếu mọi người đều hiểu biết rõ ràng các trạng thái cảm thọ của Thân Trung Ấm thời lợi lạc không thể lường, vì hành xử đúng cách Trung Ấm Thân không gây sân hận, nên không bị đọa lạc, mà còn được sự hộ niệm trợ duyên cho Trung Ấm thân được tăng thượng duyên trong việc thọ sanh vào cõi Tịnh Độ thì quý hóa vô lường.

    Đại Đức Thích Phước Nhân

    Mùa An Cư Tân Tỵ

  5. #5
    Tham gia
    Nov 2011
    Bài gửi
    388
    Thanks
    4
    Thanked
    19 Times in 19 Posts
    Năng lực viết bài
    0
    Thân Trung Ấm tồn tại bao lâu?



    Việc cho rằng thân trung ấm chỉ tồn tại trong 49 ngày là tái sinh qua kiếp sống mới đang là quan điểm chính thống cho nhiều các lễ nghi Phật giáo hiện nay.


    Cũng vì đó mà các tăng sĩ xuất gia cho rằng, sau 49 ngày không tái sinh được thì thân trung âm không còn được gọi là thân trung ấm nữa mà là các oan hồn hay ma quỷ không siêu thoát được.

    Trong Kinh Trung ấm – Quyển thượng ( thuộc tạng kinh) từ thân khẩu của Phật Thích Ca thuyết, có đoạn “Chúng sinh Trung ấm nương làn gió để ăn uống .

    Thọ mạng của chúng sinh ở cõi Diêm Phù Đề là một trăm tuổi. Cõi Đông Phất Vu Đãi là năm trăm tuổi. Cõi Tây Câu Da Ni hai trăm năm mươi tuổi cõi Uất Đan Viết là một nghìn tuổi. Thọ mạng của thân Trung Ấm chỉ có bảy ngày.”

    Điều đó có nghĩa là thân trung âm chỉ tồn tại có bẩy ngày là chết nhưng cũng không có nghĩa là sau bẩy ngày chúng sinh mang thân trung ấm sẽ tái sinh vào kiếp sống mới.


    Bài Kệ của Đức Thế Tôn nói rằng:

    Hàng chúng sinh ba phẩm

    Trung Ấm khi thọ hình

    Đổi thay không lường nổi

    Có thể hiểu là sau khi hình thành, thân trung ấm liên tục thay đổi theo thời gian, mất đi lại hình thành, rồi lại mất đi lại hình thành…. Cứ như thế cho đến khi tái sinh qua kiếp sống mới.

    Xem toàn bộ cuốn kinh này tôi không thấy đoạn kinh nào nói là sau 49 ngày thân trung ấm sẽ thọ thai. Vì sao thân trung ấm có sự thay đổi như vậy tôi sẽ nói rõ ở phần sau.

    Trong Luận Vãng sinh nói về thời gian tồn tại của thân trung ấm như sau: “Đối với người cõi trung ấm lúc nào cũng mờ mờ với ánh sáng xám nhạt như một ngày mùa thu, không phân biệt ngày và đêm. Giai đoạn mang thân trung ấm này kéo dài một, hai cho đến sáu bẩy tuần thậm chí có thể kéo dài đến 49 tuần…điều đó tuỳ thuộc nơi nghiệp lực quyết định.”

    Theo một vị Lạt ma hoá thân thì “Khi xác thể và dục thể có tan rã hết (tức là bỏ hết tất cả nhũng tham luyến của kiếp sống cũ ) thì con người mới siêu thoát và có thể đầu thai vào kiếp sống mới. Dục thể là cái quyết định thời gian con người phải sống cõi âm lâu hay nhanh chóng. Những con người có tâm hồn thanh khiết dễ siêu thoát hơn người có nhiều dục vọng."

    Theo sư phụ thì các vong linh không siêu thoát được đều rất đau khổ, họ không ý thức rằng mình đã sang một cõi khác mà cứ bám lấy cõi trần thần trí mê mờ điên đảo.
    Trong Luận vãng sinh, người ta phân con người từ khi sinh cho đến khi tái sinh trở lại kiếp sống mới gồm 6 giai đoạn về tâm thức (6 bardo), bao gồm:

    - Khi mới sinh ra.

    -Trong giấc mộng.

    - Khi nhập định.

    -Bắt đầu chết.

    - Thân trung ấm.

    -Trước khi tái sinh.

    Nếu đối chiếu với những quan niệm về cõi giới âm hiện nay thì chúng ta sẽ thấy nó bao gồm 3 giai đoạn : Bắt đầu chết – Thân trung ấm – Trước khi tái sinh.

    Thực tế, giai đoạn 4 và giai đoạn 6 không thể gọi người cõi âm được vì thần thức còn mê man bất tỉnh chưa hình thành thân (4) và thân trung ấm đã chuyền sang thân của cõi giới chuẩn bị tái sinh (6). Nếu có gọi hồn cũng không lên được.

    Nếu đối chiếu vào 6 giai đoạn tâm thức trên ta thấy, thế giới của các chúng sinh mà ta gọi là các oan hồn hay ma quỷ là không có.

    Thật là oan ức cho các thần thức phải mang tên gọi như vậy. Chỉ cần chúng ta bỏ đi quy ước về tuổi thọ 49 ngày của thân trung ấm thì chúng ta sẽ giúp cho bao nhiêu các hương linh, người thân, các chiến sĩ, các vị anh hùng dân tộc không còn bị gọi là các oan hồn hay là ma quỷ.
    Vì vậy, tất cả các chúng sinh sau khi chết, nếu chưa bước vài giai đoạn tái sinh đều có thể gọi là thân trung ấm hay Người cõi âm (theo quan niệm dân gian) hiện nay.

    Thêm nữa, nếu tuổi thọ của tất cả thân trung âm chỉ tồn tại có 49 ngày là tái sinh thì cứ đến hẹn lại lên, tất cả chúng sinh trung ấm đều đi đầu thai, chúng ta cần gì phải lập Trai đàn,chẩn tế bạt độ cầu siêu cho các vong linh được siêu thoát.

    Như vậy, nếu nhìn vào các hiện tượng tiếp xúc với người cõi âm của các nhà ngoại cảm trong suốt thời gian qua chúng ta thấy, 49 ngày của thân trung ấm có thể chỉ là một biểu tượng hay một khái niệm về thời gian của cuộc sống thân trung ấm.

    Nó tượng trưng cho sự thay đổi 7 giai đoạn phát triển của thân trung ấm từ khi hình thành cho đến khi đầu thai tái sanh. Trong 7 giai đoạn này đối với từng chúng sinh có sự dài ngắn khác nhau phụ thuộc vào sự tham luyến cuộc sống vừa mới rời khỏi hay chấp ngã về một thân xác trong quá khứ.

    Theo luận sư Pháp Cứu (Dharmatrata), tác giả Tạp A tỳ đàm tâm luận (Samyutara Abhidharmahridaya) thì thân trung ấm tồn tại không hạn chế thời gian nếu nhân duyên chưa đủ để đầu thai


Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •  
About us
© 2001 - 2013 KinhDoanhGioi.com giữ bản quyền. Xem tốt nhất ở độ phần giải lớn hơn 1024x768 với trình duyệt Firefox
Sử dụng mã nguồn vBulletin® © 2000 - 2013 Jelsoft Enterprises Ltd. Được xây dựng bởi tất cả các thành viên KinhDoanhGioi.com.
Đường dây nóng: 0977 091 190 - Liên hệ - Email: kdg.sale@yahoo.com
Join us